Giảng dạy và học tập học phần Chủ nghĩa xã hội khoa học trong bối cảnh chuyển đổi số tại các trường đại học ở Việt Nam hiện nay

                                                            TS. Nguyễn Thị Thu Thủy - Bộ môn CNML, khoa KHCB&ƯD                     

I. TÓM TẮT

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu thế chuyển đổi số đang tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục đại học là một trong những lĩnh vực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất. Chuyển đổi số không chỉ làm thay đổi phương thức quản lý, tổ chức đào tạo và tiếp cận tri thức mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới toàn diện đối với hoạt động giảng dạy và học tập các học phần lý luận chính trị trong các trường đại học hiện nay. Trong bối cảnh đó, học phần Chủ nghĩa xã hội khoa học (CNXHKH) giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng, lý tưởng cách mạng và bản lĩnh chính trị cho sinh viên Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Đồng thời, các định hướng lớn trong Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục khẳng định nhiệm vụ: Kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung phân tích những tác động của chuyển đổi số đối với hoạt động giảng dạy và học tập học phần CNXHKH tại các trường đại học ở Việt Nam hiện nay. Bài viết làm rõ những cơ hội mà chuyển đổi số mang lại như mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, đổi mới phương pháp giảng dạy, tăng cường tính tương tác, phát triển năng lực số cho giảng viên và sinh viên. Đồng thời, chỉ ra những khó khăn, thách thức như nguy cơ tiếp cận thông tin sai lệch, suy giảm chiều sâu tư duy lý luận, lệ thuộc công nghệ và áp lực đổi mới đối với đội ngũ giảng viên. Từ đó, đánh giá thực trạng giảng dạy và học tập học phần CNXHKH trong môi trường số để đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập học phần này trong thời gian tới.

Từ khóa: Chủ nghĩa xã hội khoa học, lý luận chính trị, chuyển đổi số, giáo dục đại học, công nghệ số, đổi mới phương pháp giảng dạy.

II. MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, chuyển đổi số đã và đang trở thành xu thế tất yếu đối với mọi quốc gia trên thế giới. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), internet vạn vật và các nền tảng số đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị xã hội và đời sống con người. Đối với lĩnh vực giáo dục đại học, chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học mà còn là quá trình đổi mới toàn diện mô hình giáo dục, phương pháp giảng dạy, hoạt động học tập, kiểm tra đánh giá và quản trị đào tạo theo hướng hiện đại, linh hoạt và hội nhập.

Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: “Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số” và nhấn mạnh yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Đồng thời, các định hướng lớn trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV tiếp tục khẳng định nhiệm vụ phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, xây dựng xã hội số, công dân số và nâng cao chất lượng giáo dục đại học trong tiến trình phát triển nhanh và bền vững đất nước. Đặc biệt, Đại hội XIV của Đảng cũng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu “kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định lý luận về con đường quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Điều này cho thấy việc giáo dục lý luận chính trị cho thế hệ trẻ, nhất là sinh viên đại học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng và xây dựng bản lĩnh chính trị trong bối cảnh hội nhập quốc tế và môi trường số đa chiều hiện nay.

Trong hệ thống các môn lý luận chính trị ở bậc đại học, học phần CNXHKH giữ vai trò quan trọng trong việc trang bị cho sinh viên những tri thức cơ bản về quy luật phát triển của xã hội, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thông qua học phần này, sinh viên tiếp tục hình thành, củng cố, phát triển thế giới quan khoa học duy vật biện chứng, phương pháp luận biện chứng duy vật, lý tưởng cách mạng và niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, dưới tác động của chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của internet, mạng xã hội và các nền tảng truyền thông đa chiều, hoạt động giảng dạy và học tập học phần CNXHKH đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức mới. Một mặt, công nghệ số giúp mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, đổi mới phương pháp giảng dạy, tăng tính tương tác và phát huy tính chủ động của người học. Mặt khác, không gian mạng cũng chứa nhiều thông tin sai lệch, quan điểm xuyên tạc chủ nghĩa Mắc – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng, của Nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức chính trị của sinh viên nếu thiếu khả năng chọn lọc và phản biện thông tin.

Trong thực tiễn hiện nay, nhiều trường đại học ở Việt Nam đã từng bước triển khai chuyển đổi số trong đào tạo, ứng dụng các nền tảng học tập trực tuyến, xây dựng học liệu số và đổi mới phương pháp giảng dạy các học phần lý luận chính trị. Tuy nhiên, quá trình này vẫn còn tồn tại không ít hạn chế như: nội dung giảng dạy còn nặng lý thuyết, hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ, năng lực số của giảng viên và sinh viên còn hạn chế, tình trạng học tập thụ động và lệ thuộc vào công nghệ vẫn diễn ra ở nhiều nơi.

Xuất phát từ những lý do nêu trên, việc nghiên cứu vấn đề “Giảng dạy và học tập học phần Chủ nghĩa xã hội khoa học trong bối cảnh chuyển đối số tại các trường đại học ở Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và cấp thiết. Nghiên cứu góp phần làm rõ những tác động của chuyển đổi số đối với giáo dục lý luận chính trị nói chung, CNXHKH nói riêng để từ đó đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập học phần này trong thời gian tới. Qua đó, góp phần đào tạo thế hệ sinh viên có trình độ chuyên môn, bản lĩnh chính trị, năng lực số và trách nhiệm đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.   

III. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1. Cơ sở lý luận về giảng dạy và học tập học phần CNXHKH trong bối cảnh chuyển đổi số

1.1. Khái niệm chuyển đổi số trong giáo dục đại học

Chuyển đổi số trong giáo dục đại học là quá trình ứng dụng công nghệ số vào toàn bộ hoạt động đào tạo, quả lý, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, tối ưu hóa nguồn lực và xây dựng môi trường học tập hiện đại.

Chuyển đổi số không đơn thuần là việc sử dụng công nghệ thông tin mà còn là sự thay đổi toàn diện về tư duy giáo dục, phương thức tổ chức dạy học và cách thức tiếp cận tri thức của người học.

Trong giáo dục đại học, chuyển đổi số được thể hiện qua: Hệ thống học tập trực tuyến; Lớp học thông minh; Học liệu điện tử; Ứng dụng trí tuệ nhân tạo; Quản lý đào tạo bằng dữ liệu số; Kiểm tra, đánh giá trực tuyến.

1.2. Vai trò của học phần CNXHKH trong giáo dục học đại học

Chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận cấu thành nên chủ nghĩa Mác – Lênin, nghiên cứu những quy luật chính trị - xã hội của quá trình chuyển biến từ Chủ nghĩa tư bản lên Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản.

Trong hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam, học phần CNXHKH là môn học bắt buộc, là môn học thứ ba trong hệ thống 05 học phần lý luận chính trị. Học phần này có vai trò quan trọng, nhằm:

- Trang bị thế giới quan khoa học cách mạng cho sinh viên (giúp hình thành, củng cố, phát triển thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật);

- Bồi dưỡng lý tưởng cách mạng và niềm tin chính trị;

- Cung cấp kiến thức và là cơ sở nền tẩng để tiếp cận, học tốt học phần Lịch sử Đảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh.

- Giúp sinh viên nhận thức đúng đắn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam;

- Hình thành khả năng phản biện trước các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;

- Giáo dục tư tưởng, đạo đức, nhân cách, trách nhiệm công dân và ý thức xã hội;

Trong bối cảnh chuyển đổi số và toàn cầu hóa hiện nay, vai trò của học phần CNXHKH càng trở nên quan trọng bởi: sinh viên phải đối mặt với môi trường thông tin đa chiều và nhiều tác động phức tạp từ không gian mạng.

2. Tác động của chuyển đổi số đối với giảng dạy và học tập học phần CNXHKH

2.1. Tác động tích cực

- Một là, mở rộng khả năng tiếp cận tri thức và học liệu số. Chuyển đổi số giúp giảng viên và sinh viên tiếp cận nguồn học liệu phong phú như: Giáo trình điện tử; Thư viện số; Video bài giảng; Podcast học thuật; Cơ sở dữ liệu nghiên cứu; Văn kiện điện tử của Đảng; Các bài viết trên các tạp chí điện tử, cổng thông tin chính phủ, cổng thông tin điện tử của các tỉnh, ban, ngành… Vì vậy, sinh viên có thể học tập mọi lúc, mọi nơi và chủ động tìm kiếm thông tin phục vụ học tập.

- Hai là, đổi mới phương pháp giảng dạy. Công nghệ số tạo điều kiện để đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại và lấy người học làm trung tâm. Giảng viên có thể sử dụng: Video minh họa; Sơ đồ tư duy số; Infographic; Trò chơi hóa học tập; Hệ thống khảo sát trực tuyến; dùng phuwong pháp trừu tượng hóa khoa học; Giao và hướng dẫn thảo luận; Kiểm tra, đánh giá sinh viên qua hình thức trực tuyến, qua các nền tảng số, phần mềm… để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập cho sinh viên. Điều này giúp bài giảng trở nên sinh động và hấp dẫn hơn. Sinh viên hiểu sâu và có thể biết vận dụng các kiến thức được học vào giải thích các hiện tượng diễn ra trong xã hội hoặc có tư duy phản biện, nhận diện được đúng, sai khi tiếp cận với các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam.

- Ba là, tăng cường tính tương tác trong học tập. Các nền tảng trực tuyến như: Zoom; Microsoft Teams; Moodle hay Google Classroom… giúp tăng cường tương tác giữa giảng viên và sinh viên. Sinh viên có thể: Thảo luận nhóm; Tranh luận trực tuyến; Phản biện các vấn đề chính trị - xã hội… Qua đó, nâng cao khả năng tư duy phản biện và vận dụng lý thuyết vào thực tiễn.

- Bốn là, phát triển năng lực số và kỹ năng mềm. Môi trường học tập số giúp sinh viên phát triển: Kỹ năng công nghệ; Kỹ năng tìm kiếm thông tin; Kỹ năng làm việc nhóm; Kỹ năng thuyết trình; Kỹ năng tự học, tự phân tích tài liệu; Kỹ năng nhận diện và phản biện… Đây là những năng lực cần thiết trong xã hội hiện đại.

2.2. Tác động tiêu cực

- Một là, nguy cơ tiếp cận thông tin sai lệch, thông tin xấu, độc hại. Không gian mạng tồn tại nhiều thông tin sai lệch, xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và cả xuyên tạc, bôi nhọ đạo đức, nhân cách, phẩm chất của các nhà lãnh đạo cấp cao của Việt Nam. Nếu thiếu khả năng chọn lọc thông tin, sinh viên dễ bị tác động bởi các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc đó dẫn đến hoang mang, mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng…

- Hai là, giảm chiều sâu tư duy lý luận. Việc tiếp cận thông tin nhanh trên mạng xã hội có thể làm sinh viên hình thành thói quen học tập hời hợt, thiếu nghiên cứu chuyên sâu, lười vận động suy nghĩ… Trong khi đó, học phần CNXHKH đòi hỏi sinh viên phải có tư duy logic và khả năng phân tích lý luận sâu sắc.

- Ba là, lệ thuộc vào công nghệ và AI. Một số sinh viên sử dụng AI hoặc internet để sao chép bài tập mà không tự suy nghĩ, nghiên cứu. Điều này ảnh hưởng đến khả năng tư duy độc lập, tư duy logic, kỹ năng phản biện và chất lượng học tập.

-  Bốn là, áp lực đối với giảng viên. Trong thời đại số, giảng viên phải liên tục cập nhật công nghệ, phần mềm, đổi mới phương pháp giảng dạy và thích ứng với môi trường số. Điều này tạo áp lực lớn về năng lực công nghệ số và thời gian học tập kỹ năng số ngoài chuyên môn.

3. Thực trạng giảng dạy và học tập học phần CNXHKH tại các trường đại học ở Việt Nam hiện nay

3.1. Những kết quả đạt được

Thứ nhất, nhiều trường đại học đã triển khai hệ thống học trực tuyến và đẩy mạnh chuyển đổi số trong đào tạo. Dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đặc biệt sau đại dịch COVID – 19, quá trình chuyển đổi số trong giáo dục đại học ở Việt Nam diễn ra mạnh mẽ hơn. Nhiều trường đại học đã đầu tư xây dựng hệ thống quản lý học tập trực tuyến LMS, triển khai mô hình đào tạo kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến nhằm thích ứng với yêu cầu mời của giáo dục hiện đại. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến nay phần lớn các trường đại học ở Việt Nam đã triển khai các nền tảng học tập trực tuyến như: Moodle; Microsoft Teams; Google Classroom; Zoom; Canvas… Nhiều trường đại học lớn như: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Thái Nguyên… đã xây dựng hệ thống giáo dục số tương đối đồng bộ, tích hợp: quản lý học tập, kiểm tra đánh giá trực tuyến, kho học liệu số, thư viện điện tử, hệ thống hỗ trợ học tập thông minh…

Trong giảng dạy học phần CNXHKH, việc ứng dụng nền tảng số đã giúp: duy trì hoạt động học tập, mở rộng không gian học tập, tăng khả năng tiếp cận tài liệu, hỗ trợ giảng viên quản lý lớp học hiệu quả hơn. Đặc biệt, trong giai đoạn dịch COVID – 19, gần 100% các trường đại học đã tổ chức dạy học trực tuyến đối với các học phần lý luận chính trị, trong đó có học phần CNXHKH. Đây được xem là bước chuyển quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong giáo dục đại học Việt Nam.

Thứ hai, giảng viên từng bước ứng dụng công nghệ số vào bài giảng. Trong những năm gần đây, đội ngũ giảng viên giảng dạy các môn lý luận chính rị nói chung, CNXHKH nói riêng đã có nhiều chuyển biến tích cực trong việc ứng dụng công nghệ số vào hoạt động giảng dạy. Thay vì chỉ sử dụng phương pháp thuyết trình truyền thống, nhiều giảng viên đã kết hợp: Slide trình chiếu đa phương tiện, video tư liệu lịch sử, sơ đồ tư duy số, infographic, podcast học thuật, hệ thống câu hỏi trực tuyến, phần mềm tương tác như Kahoot, Quizizz, Mentimeter… Bên cạnh đó, nhiều giảng viên đã chủ động khai thác: văn kiện điện tử của Đảng, tài liệu nghiên cứu trực tuyến, các số liệu kinh tế - xã hội mới, thông tin thời sự chính trị để cập nhật nội dung bài giảng theo hướng gắn lý luận với thực tiễn.

Thứ ba, sinh viên chủ động hơn trong việc khai thác tài liệu trực tuyến và tự học. Chuyển đổi số đã làm thay đổi phương thức học tập của sinh viên. Nếu trước đây sinh viên chủ yếu phụ thuộc vào giáo trình và bài giảng trên lớp thì hiện nay việc tiếp cận tri thức trở nên linh hoạt và đa dạng hơn. Sinh viên có thể chủ động khai thác: thư viện điện tử, kho học liệu, bài giảng trực tuyến, video học thuật, podcast chính trị, các cơ sở dữ liệu nghiên cứu khoa học để phục vụ quá trình học tập và nghiên cứu. Theo thống kế của Bộ Thông tin và Truyền thông, tỷ lệ người trẻ Việt Nam sử dụng internet hiện nay đạt trên 90%, trong đó sinh viên là nhóm có mức độ sử dụng internet và mạng xã hội rất cao. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các mô hình học tập số trong giáo dục đại học.

Đối với học phần CNXHKH, nhiều sinh viên đã bước đầu hình thành kỹ năng: tự học, tự tìm kiếm thông tin, làm việc nhóm trực tuyến, trình bày và phản biện học tập. Một bộ phận sinh viên còn chủ động tham gia các diễn đàn học thuật, hội thảo khoa học trực tuyến và nghiên cứu khoa học liên quan đến các vấn đề chính trị - xã hội hiện nay.

Thứ tư, các phương pháp dạy học tích cực được áp dụng ngày càng nhiều. Cùng với quá trình đổi mới giáo dục, nhiều trường đại học đã tăng cường áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực đối với học phần XNXHKH. Các hình thức như: thảo luận nhóm, tranh biện học thuật, học theo dự án, nghiên cứu tình huống, lớp học đảo ngược, dạy học kết hợp trực tiếp và trực tuyến được triển khai ngày càng phổ biến hơn. Thông qua các phương pháp này, sinh viên không chỉ tiếp thu kiến thức lý luận mà còn được rèn luyện tư duy phản biện, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác, kỹ năng giải quyết vấn đề, khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn. Đặc biệt, nhiều giảng viên đã gắn kết bài học với các vấn đề thực tiễn như: chuyển đổi số quốc gia, kinh tế số, an ninh mạng, trách nhiệm công dân trên không gian mạng, vai trò của thanh niên trong phát triển đất nước. Điều này góp phần nâng cao tính thực tiễn và sức hấp dẫn của học phần CNXHKH.

3.2. Những hạn chế còn tồn tại

Thứ nhất, nội dung giảng dạy ở nhiều nơi vẫn còn nặng lý thuyết. Mặc dù đã có nhiều đổi mới nhưng không ít cơ sở đào tạo, nội dung giảng dạy học phần CNXHKH vẫn còn thiên về truyền đạt lý thuyết, thiếu tính thực tiễn và chưa theo kịp sự phát triển của xã hội số. Một số bài giảng vẫn chủ yếu giải thích khái niệm, trình bày lý luận kinh điển, thiếu liên hệ thực tiễn, chưa cập nhật các vấn đề mới của thời đại. Điều này khiến sinh viên cảm thấy học phần khô khan, khó tiếp cận và thiếu tính ứng dụng. Trong khi đó, thế hệ sinh viên hiện nay có xu hướng tiếp cận thông tin nhanh, trực quan và mang tính tương tác cao. Nếu nội dung bài giảng không được đổi mới phù hợp, rất khó tạo động lực học tập đối với sinh viên.

Thứ hai, một số giảng viên chưa thành thạo công nghệ số. Đội ngũ giảng viên là yếu tố quyết định chất lượng chuyển đổi số trong giáo dục đại học. Tuy nhiên, trên thực tế, năng lực số của giảng viên giữa các cơ sở đào tạo còn chưa đồng đều. Một bộ phận giảng viên lý luận chính trị vẫn còn hạn chế trong thiết kế bài giảng điện tử, khai tác học liệu số, tổ chức lớp học trực tuyến, sử dụng hệ thống LMS, ứng dụng AI trong giảng dạy… Nhiều giảng viên vẫn quen với phương pháp giảng dạy truyền thống, chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp giảng dạy hoặc còn tâm lý e ngại công nghệ. Ngoài ra, áp lực phải thường xuyên cập nhật công nghệ mới cũng tạo ra khó khăn không nhỏ đối với đội ngũ giảng viên, nhất là các giảng viên lớn tuổi.

Thứ ba, hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ giữa các trường đại học. Mặc dù chuyển đổi số phát triển mạnh nhưng điều kiện hạ tầng công nghệ giữa các cơ sở giáo dục đại học vẫn còn chênh lệch đáng kể. Các trường đại học lớn ở trung tâm có điều kiện đầu tư phòng học thông minh, xây dựng hệ thống LMS hiện đại, phát triển thư viện số, triển khai hệ thống dữ liệu đào tạo đồng bộ. Trong khi đó, nhiều trường ở địa phương còn gặp khó khăn về kinh phí đầu tư, thiết bị công nghệ, đường truyền internet, hệ thống học liệu số… Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả triển khai dạy học số đối với hoc phần CNXHKH. Ngoài ra, một bộ phận sinh viên ở vùng sâu, vùng xa hoặc có hoàn cảnh khó khăn vẫn thiếu máy tính cá nhân, thiết bị học tập, điều kiện truy cập internet ổn định. Tình trạng “khoảng cách số” vẫn là thách thức lớn trong giáo dục đại học hiện nay.

Thứ tư, sinh viên còn thiếu hứng thú học tập đối với học phần CNXHKH. Trên thực tế, vẫn còn không ít sinh viên xem các môn lý luận chính trị nói chung, CNXHKH nói riêng là môn học phụ và học chủ yếu là do bắt buộc, học để đủ điều kiện thi cử. Một số sinh viên chưa nhận thức đầy đủ vai trò của học phần CNXHKH trong việc hình thành thế giới quan khoa học, xây dựng bản lĩnh chính trị, định hướng tư tưởng và trách nhiệm công dân. Trong môi trường số hiện nay, sự cạnh tranh giữa học tập với các nội dung giải trí trên mạng xã hội càng làm giảm khả năng tập trung và động lực học tập của sinh viên. Theo một số khảo sát tại các trường đại học, tỷ lệ sinh viên dành nhiều thời gian cho mạng xã hội cao hơn đáng kể so với thời gian tự học và nghiên cứu tài liệu học thuật. Việc này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập các học phần lý luận chính trị.

Thứ năm, việc sử dụng công nghệ ở nhiều nơi còn mang tính hình thức. Mặc dù nhiều cơ sở đào tạo đã triển khai chuyển đổi số nhưng ở một số nơi, việc ứng dụng công nghệ trong giảng dạy vẫn mang tính hình thức. Một số giảng viên chỉ chuyển bài giảng giấy sang slide trình chiếu, dạy trực tuyến theo phương pháp đọc – chép, ít tổ chức hoạt động tương tác, chưa khai thác hiệu quả công nghệ số. Trong nhiều trường hợp, công nghệ mới chỉ đóng vai trò hỗ trợ trình chiếu chứ chưa thực sự tạo ra sự thay đổi về phương pháp dạy học. Ngoài ra, việc kiểm tra đánh giá trực tuyến ở một số nơi còn thiếu chặt chẽ, dẫn đến tình trạng học đối phó, gian lận học tập, lệ thuộc vào AI và internet. Vì vậy, yêu cầu đặt ra cần phải tiếp tục đổi mới toàn diện cả về tư duy, nội dung và phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học học phần CNXHKH trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

4. Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng dạy và học học phần CNXHKH ở Việt Nam hiện nay

4.1. Đổi mới nội dung chương trình

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, nội dung giảng dạy học phần CNXHKH cần được đổi mới theo hướng hiện đại, cập nhật thực tiễn gắn với những vấn đề phát triển mới của đất nước. Việc đổi mới nội dung chương trình không chỉ nhằm nâng cao tính hấp dẫn của học phần mà còn giúp sinh viên nhận thức rõ hơn giá trị lý luận và thực tiễn của CNXHKH trong điều kiện phát triển mới.

Trước hết, chương trình cần bổ sung các nội dung liên quan đến chuyển đổi số quốc gia, kinh tế số, xã hội số và công dân số theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII và định hướng Đại hội XIV của Đảng. Đây là những vấn đề có ý nghĩa thời sự, phản ánh sự vận động của xã hội hiện đại, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Đối với nội dung về chuyển đổi số quốc gia, cần giúp sinh viên hiểu được: Vai trò của công nghệ số đối với phát triển kinh tế - xã hội; Tác động của chuyển đổi số đối với đời sống chính trị, văn hóa và xã hội; Mối quan hệ giữa phát triển công nghệ với định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Đối với nội dung kinh tế số và xã hội số, cần phân tích: Sự thay đổi của lực lượng sản xuất trong thời đại số; Vai trò của tri thức và dữ liệu trong nền kinh tế hiện đại; Tác động của kinh tế số đối với quan hệ lao động và cơ cấu xã hội; Những vấn đề đặt ra về công bằng xã hội, an sinh xã hội và khoảng cách số.

Ngoài ra, chương trình cần cập nhật các vấn đề chính trị - xã hội mới như: An ninh mạng; Chủ quyền số quốc gia; Văn hóa số; Đạo đức số; Trách nhiệm công dân trên không gian mạng; Tác động của trí tuệ nhân tạo đến đời sống xã hội.

Việc gắn lý luận của CNXHKH với các vấn đề thực tiễn của thời đại số sẽ giúp sinh viên thấy rõ ý nghĩa và giá trị của học phần, từ đó nâng cao hứng thú và động lực học tập. Bên cạnh đó, nội dung chương trình cần tăng cường tính liên hệ thực tiễn, cập nhật các thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, các chủ trương phát triển kinh tế số, xã hội số của Việt Nam cũng như những vấn đề toàn cầu hiện nay. Điều này góp phần giúp sinh viên hiểu rằng CNXHKH không phải là hệ thống lý luận khô cứng mà luôn vận động và phát triển cùng thực tiễn xã hội.

4.2. Đổi mới phương pháp giảng dạy

Đổi mới phương pháp giảng dạy là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng học tập học phần CNXHKH trong bối cảnh chuyển đối số. Trong nhiều năm, việc giảng dạy các môn lý luận chính trị ở một số nơi vẫn còn nặng về truyền thụ kiến thức một chiều khiến sinh viên thụ động và thiếu hứng thú học tập. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ phương pháp giảng dạy truyền thống sang các phương pháp dạy học hiện đại, lấy người học làm trung tâm.

Trước hết, cần tăng cường các hoạt động thảo luận nhóm và tranh biện học thuật. Thông qua thảo luận, sinh viên có cơ hội trình bày quan điểm cá nhân, trao đổi ý kiến và tiếp cận nhiều góc nhìn khác nhau về các vấn đề chính trị - xã hội. Việc này giúp nâng cao khả năng tư duy phản biện và năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn của sinh viên. Còn đối với hoạt động tranh biện, giảng viên có thể tổ chức các chủ đề như: Vai trò của chuyển đổi số với phát triển xã hội; Tác động của AI đối với lao động và việc làm; Những vấn đề đặt ra đối với công bằng xã hội trong nền kinh tế số; Trách niệm của thanh niên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng… Thông qua quá trình tranh biện, sinh viên không chỉ hiểu sâu hơn kiến thức lý luận mà còn rèn luyện kỹ năng lập luận, kỹ năng phản biện và khả năng bảo vệ quan điểm khoa học. Ngoài ra, cần đẩy mạnh phương pháp học theo dự án. Giảng viên có thể giao cho sinh viên thực hiện các dự án nghiên cứu nhỏ liên quan đến: Chuyển đổi số ở địa phương; Ảnh hưởng của mạng xã hội đối với giới trẻ; Tác động của công nghệ đến đời sống lao động; Vấn đề văn hóa ứng xử trên không gian mạng. Phương pháp này giúp sinh viên gắn lý luận với thực tiễn và nâng cao khả năng nghiên cứu độc lập. Bên cạnh đó, mô hình lớp học đảo ngược cần được triển khai mạnh mẽ hơn. Theo mô hình này, sinh viên sẽ tự nghiên cứu tài liệu, video bài giảng trước khi lên lớp, thời gian lên lớp chủ yếu dành cho thảo luận, giải quyết vấn đề và phản biện học thuật. Như vậy, giúp phát huy tính chủ động và khả năng tự học của sinh viên. Đặc biệt, cần kết hợp linh hoạt giữa dạy học trực tiếp và trực tuyến theo mô hình blended learning. Hình thức này giúp tận dụng ưu thế của công nghệ số đồng thời vẫn duy trì được sự tương tác trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên.

4.3. Phát triển học liệu số

Học liệu số giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập. Học liệu số không chỉ giúp mở rộng khả năng tiếp cận tri thức mà còn tạo điều kiện để đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại và linh hoạt hơn. Vì vậy, cần xây dựng hệ thống giáo trình điện tử đối với các môn lý luận chính trị nói chung, CNXHKH nói riêng. Giáo trình điện tử cần được thiết kế theo hướng: Tích hợp đa phương tiện; Có hình ảnh minh họa; Có video tư liệu; Có sơ đồ tư duy; Có liên kết dữ liệu mở rộng… giúp nội dung lý luận trở nên trực quan và dễ tiếp cận hơn đối với sinh viên. Các trường đại học cũng cần phát triển kho học liệu mở, thư viện số. Việc xây dựng kho học liệu mở, thư viện số sẽ tạo điều kiện cho sinh viên chủ động học tập và nghiên cứu mọi lúc, mọi nơi.

4.4. Nâng cao năng lực số cho giảng viên và sinh viên

Năng lực số đang trở thành yêu cầu thiết yếu đối với cả giảng viên và sinh viên trong giáo dục đại học hiện nay. Do đó, các trường đại học cần chú trọng bồi dưỡng kỹ năng số nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi số trong giáo dục.

Đối với giảng viên, cần thường xuyên tổ chức các chương trình tập huấn về: Ứng dụng công nghệ trong dạy học; Thiết kế bài giảng điện tử; Sử dụng hệ thống LMS; Tổ chức lớp học trực tuyến: Ứng dụng AI trong giáo dục. Bên cạnh kỹ năng công nghệ, giảng viên cũng cần đổi mới tư duy giáo dục, chuyển từ vai trò truyền đạt tri thức sang vai trò định hướng, hỗ trợ và tổ chức các hoạt động học tập cho sinh viên.

Đối với sinh viên, cần tăng cường bồi dưỡng: Kỹ năng học tập số; Kỹ năng tìm kiếm và chọn lọc thông tin; Kỹ năng phản biện trên không gian mạng; Kỹ năng sử dụng AI có trách nhiệm; Kỹ năng bảo mật thông tin cá nhân. Trong bối cảnh AI phát triển mạnh mẽ như hiện nay, việc hướng dẫn sinh viên sử dụng AI trong học tập một cách khoa học là rất cần thiết. AI cần được xem là công cụ hỗ trợ học tập chứ không thay thế hoàn toàn tư duy và năng lực nghiên cứu của sinh viên.

4.5. Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng trong môi trường số

Môi trường số hiện nay chứa nhiều nguồn thông tin đa chiều, trong đó, có không ít thông tin sai lệch, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng… Vì vậy, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng trong môi trường số là yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với giảng dạy học phần CNXHKH. Để làm tốt công tác này, giảng viên cần chủ động định hướng nhận thức chính trị cho sinh viên thông qua việc gắn nội dung bài giảng với các vấn đề thực tiễn của đất nước và thế giới hiện nay. Việc phân tích đúng đắn các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội sẽ giúp sinh viên củng cố niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Bên cạnh đó, cần hướng dẫn sinh viên kỹ năng nhận diện và phản bác thông tin sai lệch trên không gian mạng. Sinh viên cần được trang bị kỹ năng kiểm chứng thông tin, kỹ năng đánh giá nguồn tin, kỹ năng phản biện khoa học và ý thức trách nhiệm khi tham gia môi trường số. Đồng thời, cần nâng cao hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị. Giảng viên các môn lý luận chính trị cần phát huy vai trò nòng cốt trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần xây dựng môi trường lành mạnh, an toàn và có định hướng chính trị đúng đắn. Ngoài ra, cần tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống và trách nhiệm công dân cho sinh viên trong thời đại số. Đây là cơ sở quan trọng nhằm xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam vừa có tri thức, năng lực số, vừa có bản lĩnh chính trị và khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

IV. KẾT LUẬN

Chuyển đổi số đang tác động sâu sắc đến giáo dục đại học Việt Nam, tạo ra cả cơ hội và thách thức đối với hoạt động dạy và học học phần CNXHKH. Việc đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị trong thời đại số. Đồng thời, quá trình này cũng góp phần đào tạo thế hệ sinh viên vừa có bản lĩnh chính trị, năng lực số và khát vọng cống hiến cho sự phát triển đất nước.

Trong bối cảnh hiện nay, việc quán triệt tinh thần Văn kiện Đại hội XIII và các định hướng lớn hướng trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng nền giáo dục hiện đại, hội nhập nhưng vẫn giữ định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đổi mới giảng dạy và học tập học phần CNXHKH không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm góp phần xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đát nước trong thời kỳ mới – thời kỳ kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

V. TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

 [2] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021). Chiến lược chuyển đổi số ngành giáo dục giai đoạn 2021–2025, định hướng đến năm 2030.

[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021). Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học. NXB CHính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, II. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[6] Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[7] Nguyễn Phú Trọng (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[8] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2019). Luật Giáo dục.

[9] Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Tin mới hơn

Tin cũ hơn